Sáng nay (20/4/2022), tại khách sạn Rex (quận 1, TP.HCM), Viện Kinh tế Xanh phối hợp cùng báo Pháp Luật TP.HCM và trường ĐH Kinh tế – Luật TP.HCM tổ chức hội thảo “Đấu giá quyền sử dụng đất: Thực tiễn và giải pháp”.
Hội thảo “Đấu giá quyền sử dụng đất: Thực tiễn và giải pháp” là dịp để các cơ quan chức năng, nhà đầu tư rà soát cơ sở và dữ liệu để đánh giá, nhìn nhận vai trò, những thuận lợi và thách thức của mô hình đấu giá quyền sử dụng đất (QSDĐ) nhằm huy động nguồn lực từ xã hội.
Về mặt pháp lý, từ thực tiễn trong hoạt động đấu giá QSDĐ, nhóm chuyên gia nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp, phương án tối ưu nhất và hoàn thiện các quy định về đấu giá QSDĐ hiện nay. Trong đó có kiến nghị về sửa đổi quy định pháp luật có liên quan, nhất là việc sửa đổi Luật Đất Đai và Luật Đấu giá tài sản.
Đặc biệt Hội thảo là diễn đàn để các nhà đầu tư, đơn vị tư vấn nước ngoài, cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động đấu giá tài sản và các nhà nghiên cứu, cơ quan hữu quan trình bày quan điểm, kiến nghị, đề xuất để việc huy động nguồn lực từ đất công qua đấu giá QSDĐ.
Đúng 8 giờ 00 ngày 20-4, đông đảo lãnh đạo, đại diện các Bộ, ban, ngành từ Trung ương, lãnh đạo các địa phương và cơ quan quan thông tấn, báo chí đã có mặt đông đủ để tham dự buổi Hội thảo “Đấu giá quyền sử dụng đất: Thực tiễn pháp lý và giải pháp.”
Kết quả rà soát pháp luật sau vụ đấu giá QSDĐ tại Thủ Thiêm
Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Mai Ngọc Phước, Tổng biên tập báo Pháp Luật TP.HCM cho biết: “Lời đầu tiên, xin chân thành nồng nhiệt chào đón các lãnh đạo cơ quan ban ngành, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp cùng các cơ quan báo chí đã về tham gia hội thảo.
Đấu giá QSDĐ là một trong những giải pháp huy động nguồn lực cho ngân sách để phát triển hạ tầng, đô thị và phục vụ mục đích chung cho cộng đồng.
Thực tiễn đấu giá đất ở Việt Nam và các nơi trên thế giới đã cho chúng ta nhiều dữ liệu quan trọng để chúng ta đấu giá QSDĐ diễn ra minh bạch, hiệu quả, thượng tôn pháp luật để người dân, doanh nghiệp nhà nước hưởng lợi
Pháp luật Việt Nam, trong đó có luật đất đai 2013, luật đấu giá tài sản cùng nhiều quy định khác đã tạo ra hành lang pháp lý để quyền đấu giá QSDĐ trở nên hiệu quả.
Tuy nhiên, khi hoạt động đấu giá QSDĐ trở nên sôi động hơn, với sự tham gia của nhiều đơn vị hơn, trước sự vận động mạnh mẽ của kinh tế thị trường thì các vấn đề pháp lý phát sinh của đấu giá QSDĐ bắt đầu xuất hiện.
Ví dụ như các vụ đấu giá đất Thủ thiêm. Dù có thể khẳng định đấu giá đất Thủ Thiêm đã diễn ra đúng các quy định hiện hành nhưng cũng xuất hiện một số lỗ hổng cần khắc phục, để hoạt động pháp lý hiệu quả hơn.
Hội thảo ngày hôm nay sẽ giải quyết thực tiễn các vấn đề đấu giá quyền sử dụng đất, có cái nhìn tổng quan về pháp lý, thực tiễn đấu giá đất công tại TP.HCM.
Hội thảo sẽ là diễn đàn để nhà đầu tư trình bày quan điểm, kiến nghị, đề xuất lên các ngành các cấp để việc huy động nguồn lực từ đất công hiệu quả hơn, Hội thảo cũng sẽ lắng nghe, góp ý của các nhà đầu tư, chuyên gia, nhà hoạch định chính sách… để có các giải pháp để hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất tích cực.”
Nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý tài sản
Theo TS Bình, quy định nộp tiền trúng đấu giá mỗi địa phương một kiểu.
Quy định pháp luật và việc áp dụng các quy định về việc nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất này tại các địa phương đang không thống nhất.
Một số địa phương áp dụng quy định tại Nghị định số 148/2020 của Chính phủ, trường hợp người trúng đấu giá không nộp tiền hoặc không nộp đủ tiền theo đúng phương án đấu giá quyền sử dụng đất thì UBND cấp có thẩm quyền hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Như Thanh Hóa, Ninh Bình… quy định người trúng đấu giá phải nộp tiền trúng đấu giá trong 30 ngày, Vĩnh Phúc quy định thời hạn này là 20 ngày…
Một số địa phương khác như Hà Nội, Nghệ An, TP.HCM căn cứ theo Nghị định số 126/2020 của Chính phủ hướng dẫn Luật Quản lý thuế thì quy định chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo thông báo và chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất còn lại.
Ngoài ra, một số tỉnh khác lại căn cứ theo đối tượng, đối với cá nhân, hộ gia đình thì thời hạn nộp tiền trúng đấu giá là 30 ngày, đối với doanh nghiệp là 90 ngày.
Bộ Tư pháp, thời gian qua qua rà soát, Bộ Tư pháp thấy rằng hoạt động đấu giá QSDĐ hiện nay còn tồn tại một số vướng mắc liên quan đến sự không thống nhất giữa các quy định của pháp luật đất đai và quản lý thuế về thời hạn nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất.
Điều này dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau, gây ra khó khăn, lúng túng cho nhiều địa phương trong quá trình thực hiện cũng như tiềm ẩn các vấn đề về khiếu nại, tố cáo có thể phát sinh.
Cụ thể là theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Luật Đấu giá tài sản thì người trúng đấu giá được coi như chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá kể từ thời điểm đấu giá viên công bố người trúng đấu giá; kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trên cơ sở đó, việc nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu giá tài sản.
Tuy nhiên, quy định pháp luật và việc áp dụng các quy định về việc nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất này tại các địa phương đang không thống nhất:
-Một số địa phương đang căn cứ quy định tại khoản 21 Điều 1 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai (do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng) “trường hợp người trúng đấu giá không nộp tiền hoặc không nộp đủ tiền theo đúng phương án đấu giá quyền sử dụng đất thì UBND cấp có thẩm quyền hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật” để ban hành phương án đấu giá quyền sử dụng đất trong đó quy định việc nộp tiền trúng đấu giá theo các thời hạn khác nhau (Thanh Hóa, Ninh Bình… quy định người trúng đấu giá phải nộp tiền trúng đấu giá trong 30 ngày, Vĩnh Phúc quy định thời hạn này là 20 ngày…).
Một số địa phương khác lại căn cứ Điều 18 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ hướng dẫn Luật Quản lý thuế (do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng) “chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo thông báo và chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất còn lại” để thông báo thời hạn nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất là 90 ngày (Hà Nội, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ngoài ra, một số tỉnh khác lại căn cứ theo đối tượng: đối với cá nhân, hộ gia đình thì thời hạn nộp tiền trúng đấu giá là 30 ngày, đối với doanh nghiệp là 90 ngày (Hà Nam…).
Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của hoạt động đấu giá QSDĐ, Bộ Tư pháp kiến nghị:
Góc nhìn mới về bất động sản “tinh hoa”
Tiếp nối chương trình, ông Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội Môi giới BĐS Việt Nam, trình bày tham luận “Định vị giá trị đất Thủ Thiêm và huy động nguồn lực từ đất công: Một góc nhìn mới về bất động sản “tinh hoa” và bài học thực tiễn của các nước.”
Theo ông Đính, khi nhận thông tin TP.HCM đề xuất xây dựng TP Thủ Đức, đây là chủ trương đúng đắn, tâm điểm phát triển kinh tế, tạo ra giá trị nguồn lực, trên thế giới nhiều đô thị trên thế giới đang phát triển như vậy. Điển hình như phố Đông Thượng Hải.
“Quy hoạch hướng đến TP Thủ Đức, TP.HCM là một trong những đầu tài kinh tế, mục tiêu TP mong muốn, chúng tôi chắc chắn TP Thủ Đức sẽ trở thành sức mạnh cộng hưởng lớn, giá trị tăng lên nhiều lần” – ông Đính nói.
Khi công bố thành lập TP Thủ Đức, thị trường BĐS trở nên rất sôi động, thu hút các nhà đầu tư trên cả nước đến các vùng này.
Đồng thời, giao dịch cũng rất tăng trưởng, giá trị BĐS tăng lên rất nhanh. Năm 2019 giá đất 20 triệu/m2, khi lên thành phố giá tăng hai lần, thiết lập mặt bằng giá mới lên 50-60 triệu đồng/m2
Giá trị đất đai tăng nhanh chóng nhưng thực tế đầu tư khu vực này thì chưa cải thiện nhiều. Đó là một nghịch lý, giá trị BĐS chỉ tăng khi có hoạt động đầu tư.
“Các bộ luật liên quan đến đầu tư kinh doanh phát triển đã hoàn thiện nhưng thị trường phát triển nhanh có những điểm không còn phù hợp nữa và chúng ta đang chậm trễ. Hoạt động kinh doanh thu hút đầu tư rất cao, các dự án BĐS tại đây còn hạn chế về nguồn cung. Cầu thì cao cung thấp thì đẩy giá rất cao” – ông Đính nhận định.
Hiện nay, tất cả đều kỳ vọng vào Thủ Thiêm. Thủ Đức giá đất rất cao, nhưng hiện tại TP nên chỉ tập trung đầu tư hạ tầng và BĐS dịch vụ, không nên tập trung BĐS nhà ở.
Vấn đề còn vướng mắc có thể chỉ ra là khi nguồn cung hạn chế thì đấu giá QSDĐ là giải pháp duy nhất để thúc đẩy đầu tư. Tuy nhiên, khi lựa chọn nhà đầu tư cần đúng và trúng. Nhiều người lợi dụng đấu giá để tạo ra lợi ích khác của họ. “Làm như thế nào để ngăn chặn điều đó?” – ông Đính băn khoăn.
Theo đó, Chủ tịch Hội Môi giới BĐS Việt Nam đề xuất muốn làm gì phải đánh giá đúng năng lực nhà đầu tư, mọi quy định xem xét nhà đầu tư đều phải được thực hiện, nếu phát hiện lợi dụng tham gia đấu giá vì mục đích khác thì cần có những quy định tương ứng, thậm chí cả xử lý hình sự. Hiện nay lũng đoạn thị trường BĐS chưa có quy định chưa xử lý.
“Mục tiêu Thủ Đức trong tương lai là TP của công nghệ, tài chính. Giá đất TP Thủ Đức so với các đô thị thế giới vẫn còn thấp, chúng ta đẩy nhanh để giao đất tốt hơn. Càng lấp đầy hoàn chỉnh quy hoạch càng nhanh thì BĐS sẽ càng tăng trưởng tốt. Giá BĐS Thủ Đức thiết lập mức cao nhưng vẫn phù hợp, chúng ta cần cân nhắc nghiên cứu khung giá, bảng giá, cả hiện tại và tương lai khi TP phát triển hoàn chỉnh”- ông Đính góp ý.
Ông Lê Thành, Viện trưởng Viện Kinh tế Xanh cho biết: “Chúng ta có khái niệm bất động sản (BĐS) tinh hoa, ví dụ như Thủ Thiêm. Vì vậy việc định giá như thế nào cần được lưu ý kỹ. Thủ Thiêm nên đẩy mạnh BĐS tinh hoa, tài chính, công nghệ cao, việc đấu giá các lô đất còn lại sao cho hiệu quả… Hiện nay trong xu hướng BĐS tinh hoa có cấu trúc để định vị, để nguồn tiền nhà đầu tư trú ngụ tại đây.”
Hoàn thiện pháp lý về đấu giá quyền sử dụng đất
5 vấn đề pháp lý phát sinh về đấu giá tài sản
Theo TS Đoàn Thị Phương Diệp – Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG-HCM, những vấn đề pháp lý phát sinh về đấu giá tài sản có thể kể đến như:
Thứ nhất, có nhiều văn bản pháp luật quy định về đấu giá QSDĐ, thiếu sự thống nhất từ trung ương, bộ ngành và các địa phương.
Thứ hai, chưa phân định quy trình khi đấu giá QSDD có giá trị lớn với đấu giá tài sản khác.
Thứ ba, thiếu quy định nền tảng cơ bản là kiểm soát tình trạng sử dụng đất đai sau khi trúng đấu giá.
Thứ tư, các quy định trong luật đấu giá tài sản còn kẽ hở dẫn đến thông đồng giá.
Thứ năm, là thiếu áp dụng công nghệ thông tin trong quá trình đấu giá, đấu gia trực tuyến và có quy định về hình thức đấu giá này.
Ngoài ra còn hạn chế về thẩm định năng lực tài chính. Quy định yêu cầu chủ đầu tư cung cấp giấy tờ chứng minh năng lực tài chính nhưng lại thiếu quy định về thẩm định năng lực tài chính này.
Mức tiền ứng trước có phù hợp hay không?
Đấu giá quyền sử dụng đất là con đường gần như duy nhất để chủ đầu tư có thể tiếp cận đất công. Như vậy, vấn đề còn lại để có thể thực thi một cách tốt nhất quyền này trên cơ sở đảm bảo lợi ích công và lợi ích người dân nói chung là việc cải tiến thủ tục đấu giá để minh bạch, rõ ràng và khách quan nhất có thể.
Đấu giá đất với giá trúng đấu giá quá cao thời gian qua đã tác động đến thị trường, đẩy giá nhà đất tăng lên cao.
Từ đó, bà Diệp đưa kiến nghị cần có sự nhất quán từ Trung ương đến địa phương. Trước hết phải công bố quy hoạch sử dụng đất quốc gia và quy hoạch tổng thể của tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.
Bên cạnh đó, đảm bảo sự nhất quán các quy hoạch này liên quan đến đất đai để nhà đầu tư có thể tiếp cận và thấy rõ, từ đó xác định được mục tiêu đầu tư của mình.
Cần có thời hạn cụ thể và tuân thủ chặt chẽ thời hạn công bố các thông tin về quy hoạch, thông tin về đấu giá, đấu thầu. Cụ thể hóa hơn nữa các điều kiện để sàng lọc đầu vào đối với nhà đầu tư tham gia đấu giá.
Hiện nay, tại Điều 58 Luật đất đai chỉ yêu cầu để có thể tham gia đấu giá QSDĐ phải “có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư”.
Tuy nhiên, năng lực tài chính “để đảm bảo” là như thế nào thì chưa được xác định rõ. Điều này có thể dẫn đến kết quả chủ đầu tư tham gia đấu giá đã trúng đấu giá nhưng không có năng lực tài chính để xác lập giao dịch như đã xảy ra thời gian qua.
“Khó có thể yêu cầu nhà đầu tư phải đủ năng lực tài chính tự thân để thực hiện toàn bộ dự án, nhưng ít nhất chủ đầu tư phải chứng minh một cách thuyết phục việc sử dụng nguồn vốn từ đâu và như thế nào để cơ quan nhà nước có thể thẩm định trước khi quyết định cho tham gia đấu giá.
Việc cụ thể hóa hơn nữa điều kiện này giúp kiểm soát chặt nhà đầu tư đủ năng lực tài chính để tham gia đấu giá và ký kết, thực hiện hợp đồng sau khi trúng đấu giá.
Chúng ta cần xây dựng về chính sách thuế để tránh tình tạng bỏ hoang, đầu cơ gây lãnh phí đất đai” – bà Diệp kiến nghị.
Chương trình hội thảo bước vào phiên thảo luận
Tiềm năng của TP.HCM rất khủng khiếp
Ở góc nhìn doanh nghiệp, bà Bùi Nguyễn Huyền Trang, Tổng giám đốc Cushman & Wakefield Việt Nam, chia sẻ: “Chúng tôi là đơn vị chuyên tư vấn đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Tôi rất ngạc nhiên vì những vấn đề được đưa ra vô cùng thẳng thắn trong hội thảo.
Đánh giá lợi thế tiềm năng của các khu đất, chúng tôi cũng có báo cáo chuyên đề về lợi thế của TP.HCM về tầm và TP Thủ Đức tinh hoa và theo tôi là khá tích cực.”
Theo bà Trang, với dòng vốn FDI đang đầu tư vào thị trường Việt Nam thì còn rất nhiều cơ hội cho các khu đất ở Thủ Thiêm.
Lịch sử BĐS ở TP.HCM thường tập trung phân khúc nhà ở nhưng BĐS là mạch sống của nền kinh tế, đóng góp cho nền kinh tế chung của cả nước.
Giá đất ở TP.HCM vẫn còn mềm so với thế giới. Ở TP.HCM có rất nhiều nguồn vốn FDI, khi doanh nghiệp đầu tư ở Việt Nam, điều chúng tôi cần là một văn phòng với vị trí và quy mô xứng tầm.
Quy hoạch và chính sách đóng góp rất lớn trong thu hút đầu tư trong khi hiện nay nguồn cung, tiện ích cung ứng cho doanh nghiệp nước ngoài đang vào Việt Nam không nhiều.
“Chúng ta đang có sự e ngại khi nhà đầu tư không thực hiện được dự án khi trúng đấu giá song hiện nay nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam rất dồi dào, nhà đầu tư vài trăm triệu đô, cả tỉ đô cũng nhiều nên việc xác định năng lực tài chính là không khó khăn gì” – bà Trang khẳng định.
Theo bà Trang BĐS đóng góp mỹ quan cực kỳ lớn của đô thị, kiến trúc TP, nâng tầm khu vực. Bên cạnh việc đánh giá năng lực chủ đầu tư cần đánh giá thêm về năng lực đóng góp mỹ quan, kiến trúc của đô thị cho TP.
Thị trường BĐS Việt Nam đang phát triển, nhà đầu tư sẽ chấp nhận nhiều rủi ro, đầu tư là nắm lấy cơ hội trong tương lai nên họ chấp nhận rủi ro.
“Một vài chủ đầu tư không cam kết đi đến cuối cùng khi trúng đấu giá khiến chúng ta bị tổn thương, rất dễ dẫn đến ách tắc khi có nhà đầu tư tiếp theo, điều nay tôi đang lo ngại” – bà Trang nói.
Góp ý trong thời gian tới, bà Trang cho rằng TP nên xem xét lại tất cả các khu, lô đất đấu giá, xem lại tổng quan, làm sao để hỗ trợ nhà đầu tư một cách tối ưu, hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài. Như chính phủ Singapore vẫn xây rất nhiều tòa nhà văn phòng để thu hút FDI vào để cạnh tranh với Malaysia, khu đất đó thành một điểm hút mạnh. Từ đó chi phí đầu tư vào Singapore sẽ tốt hơn các nước khác.
Bà Trang kì vọng: “Tiềm năng TP.HCM rất khủng khiếp, cũng như Dubai có thể thu hút rất nhiều nhà đầu tư bằng các quy hoạch gần cảng, xây dựng hạ tầng cứng và hạ tầng mềm, biến Dubai thành trụ sở của các tập đoàn lớn.”
Đấu giá đất phải công khai, không cản trở thông tin
Ông Ngụy Cao Thắng, Giám đốc Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản TP.HCM, nhận định đấu giá QSDĐ phải công khai minh bạch, bảo vệ quyền lợi cho người trúng đấu giá. Đấu giá tạo sân chơi lành mạnh, giá cao nhất có thể nhằm tăng nguồn thu cho TP, lựa chọn doanh nghiệp (DN) có đủ năng lực tham gia đấu giá. Phương án đấu giá phải không đưa ra những cản trở người tham gia đấu giá.
Theo ông Thắng, thông tin tiếp cận đấu giá phải rộng rãi. Phải phòng ngừa được thông đồng dìm giá giữa các DN tham gia đấu giá và giữa tổ chức đấu giá và DN.
Cũng có trường hợp tổ chức đấu giá cản trở, giấu thông tin đấu giá. Nếu có tình huống này, các DN, người dân phải kiến nghị rất nhiều về vấn đề này với cơ quan chính quyền để kịp thời xử lý triệt để.
Sau đấu giá, DN và TP cũng mong muốn dự án được triển khai ngay, DN muốn sớm được chấp thuận chủ trương đầu tư. Sau đấu giá Thủ Thiêm, có giá trúng đấu giá cao, TP cũng sẽ tạo mọi điều kiện nhưng đã có trường hợp đáng tiếc về hai DN hủy hợp động trúng đấu giá, bỏ cọc.
Hiện đấu giá QSDĐ cung không đủ cầu, DN quan tâm rất nhiều vì có quỹ đất sạch, không phải mất thời gian, chi phí làm thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng.
Ông Thắng kiến nghị nhà đầu tư phải có năng lực tài chính mới có thể tham gia đấu giá. Khi DN không đủ tài chính lại bỏ cọc, xin gia hạn sẽ làm ảnh hưởng đến thu ngân sách, lãng phí tài nguyên đất đai.
Đất vàng phải có đầu tư
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM, góp ý đấu giá QSDĐ và đấu thầu dự án có sử dụng đất là hai phương thức góp phần kiến tạo môi trường đầu tư lành mạnh, công khai, các nhà đầu tư
“Nhà nước không đặt mục tiêu thu tiền sử dụng đất nhiều mà vấn đề là nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án. Vấn đề quan trọng không phải là đất vàng mà là đất vàng có dự án. Đất vàng không có đầu tư, suất đầu tư thấp thì đất vàng đó cũng không có giá trị gì. Tôi ủng hộ đấu giá QSDĐ công khai minh bạch nhưng đừng quên đấu thầu dự án có sử dụng đất. Có nhiều dự án đã đấu thầu dự án có chỉ tiêu, cam kết nghĩa vụ tài chính trước đây đã thực hiện.”
Ông Châu nhấn mạnh TP.HCM đã thực hiện đúng pháp luật về đấu giá. Hiện Luật Đấu giá tài sản áp dụng chung cho các loại tài nhưng khi tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất là đất công thì cần có quy định riêng.
Điểm vướng mắc là giá khởi điểm đấu giá, cần giải quyết bất cập và cũng cần sửa luật đấu giá, sửa thời gian nộp hồ sơ, xử lý vi phạm hợp đồng đấu giá.
“Quy định của chúng ta chưa chặt chẽ, chuyện thu hồi hay cho phép nộp tiền tài sản trúng đấu giá thành nhiều lần luật đấu giá chưa quy định. Khi chưa có quy định thì doanh nghiệp có quyền đề nghị.
Hiện nay chưa có đề nghị sửa luật đấu giá tài sản, nhà đầu tư thì cần môi trường minh bạch, cạnh tranh lành mạnh. Chúng ta phải luật hóa để kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh” – ông Châu nói.
Cần quy định thống nhất về luật chơi, sân chơi và người chơi đấu giá đất
PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Trưởng khoa Pháp luật ĐH Luật Hà Nội nhận định hoạt động đấu giá đất có luật chơi, sân chơi và người chơi.
Về người chơi tham gia đấu giá, cần theo quy luật phát triển của kinh tế thị trường, không nên siết chặt nhà đầu tư, tạo môi trường kinh doanh khó thu hút.
Về luật chơi, cần mổ xẻ về Luật dân sự, đấu giá tài sản, đất đai, đầu tư. Mỗi đạo luật do một cơ quan ban hành nên chưa có sự thống nhất, đồng bộ.
Để hoàn thiện pháp luật về đấu giá QSDĐ, ông Tuyến kiến nghị bổ sung quy định về điều kiện tổ chức tham gia đấu giá QSDĐ. Tổ chức tham gia đấu giá QSDĐ phải có đủ các điều kiện như thuộc đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Thứ hai, vốn thuộc sở hữu của DN để thực hiện dự án không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha; không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên và phải có kinh nghiệm trong việc thực hiện các dự án đầu tư có sử dụng đất.
Điều kiện thứ ba là quy định ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư. DN tham gia đấu giá phải nộp tiền đặt trước và có tài sản bảo đảm cho tổ chức đấu giá nhằm đảm bảo năng lực tài chính thực hiện dự án khi trúng đấu giá.
Ông Tuyến cũng cho rằng có thể quy định khoản tiền đặt trước do tổ chức đấu giá và người tham gia đấu giá thỏa thuận nhưng tối thiểu là 20% giá khởi điểm của tài sản đấu giá.
Tiền đặt trước được gửi vào một tài khoản thanh toán riêng của tổ chức đấu giá mở tại ngân hàng thương mại. Người tham gia đấu giá và tổ chức đấu giá có thể thỏa thuận thay thế tiền đặt trước bằng bảo lãnh ngân hàng.
Trường hợp người tham gia đấu giá tự ý bỏ khoản tiền đặt trước và từ chối tham gia đấu giá thì sẽ phải bồi thường cho Nhà nước thêm một khoản tiền bằng giá trị tiền đặt trước. Sau khi người tham gia đấu giá nộp đủ tiền bồi thường cho Nhà nước thì sẽ được nhận lại tài sản thế chấp.
Trường hợp người tham gia đấu giá không nộp tiền bồi thường sẽ bị khấu trừ vào tài sản thế chấp. Giá trị của tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá khởi điểm của thửa đất đấu giá.
Tài sản công đặc biệt cần có quy định riêng về đấu giá
Từ đầu cầu Hà Nội, Đại biểu Quốc hội – Vũ Tiến Lộc, cho rằng hiện nay để đáp ứng nhu cầu phát triển cần tiếp tục đấu giá QSDĐ trong cả nước.
Đây cũng là vấn đề được các đại biểu Quốc hội đặc biệt quan tâm, góp ý kiến đa chiều để hướng tới việc hoàn thiện pháp lý cho phương thức này trong thời gian tiếp theo.
“Đấu giá nói chung và đấu giá QSDĐ mục tiêu cuối cùng không phải là thu càng nhiều tiền càng tốt mà vấn đề là phát triển như thế nào để có cơ chế chính sách được lợi cả hai bên: Nhà nước và nhà đầu tư.
Thất bại của DN cũng là thất bại của Nhà nước trong trường hợp tại Thủ Thiêm. Nhà đầu tư có phần thiếu thận trọng. Ngoài ra có sơ hở trong quy định của pháp luật, đặc biệt là cơ chế kiểm tra về năng lực tài chính, quỹ thời gian ngắn – không đủ thời gian cho nhà đầu tư chuẩn bị. Nhà đầu tư bỏ cọc cho thấy chúng ta chưa thành công” – ông Lộc chỉ ra.
Ông Lộc nhấn mạnh một trong các giải pháp là phải hoàn thiện chung về thị trường BĐS. Thị trường đất đai hiện không bình thường và chưa bình thường, cần được hạ nhiệt, đưa giá BĐS về đúng giá trị của nó.
Lý do là giá BĐS cao sẽ giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế khi thu nhập người dân chưa tương xứng.
Về Luật đấu giá, đất đai là tài sản công đặc biệt, cá biệt nên cần có quy định riêng về đấu giá. Cần tăng cường cơ chế kiểm tra năng lực đối tác và giúp nhà đầu tư thành công trong các cuộc đấu giá.
Điều chỉnh luật theo hướng chế tài mạnh hơn
TS Đoàn Ngọc Phương, Giám đốc Trung tâm định giá đất và kiểm định địa chính Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), cho biết hiện bộ đang sửa đổi bổ sung Luật Đất đai.
Đấu giá QSDĐ là chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước. Quy định đấu giá đã có song vẫn có kẽ hở, có những quy định chưa chặt, chưa có biện pháp chế tài mạnh.
Không chỉ tại TP.HCM mà ở các địa phương tình trạng cá nhân, tổ chức bỏ cọc sau khi trúng đấu giá cũng nhiều. Vì vậy, trong đề án sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai sẽ theo hướng có nhiều biện pháp chế tài tăng nặng hơn.
Quỹ đất công đã giải phóng mặt bằng rất hạn hẹp. Việc đưa đưa đất vào sử dụng phải theo kế hoạch sử dụng đất của địa phương theo quy định của Luật Đất đai.
Vấn đề sử dụng đất sau đấu giá cũng cần được lưu ý. Người trúng đấu giá đất được cấp QSDĐ và có quyền chuyển nhượng QSDĐ ngay. Vì vậy, Luật Đất đai sửa đổi sẽ xem xét sử dụng công cụ tài chính về thuế, đánh thuế cao nếu chuyển nhượng trong thời gian ngắn.
Xây dựng khung pháp lý thuận lợi, hợp lý
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy Ban kinh tế của Quốc Hội, nhận định phải rất thận trọng, khách quan khi nhận định về cuộc đấu giá đất Thủ Thiêm. Giá đất trúng đấu giá rất cao so với suy nghĩ nhiều người nhưng thực tế là cao hay thấp so với giá thị trường?
Bài học rút ra từ đây là giá đất không phải là quan trọng mà mảnh đất đó phải được sử dụng như thế nào. Đất đai cần được sử dụng để đóng góp cho kinh tế, xã hội như thế nào mới là điều quan trọng.
“Trong nhiệm vụ hoàn thiện pháp lý phải đặt rõ quan điểm, tìm ra công cụ đấu giá QSDĐ hợp lý để tăng giá trị QSDĐ chứ không chỉ tập trung vào giá đất.
Hoàn thiện trên định hướng xây dựng khung pháp lý thuận lợi, hợp lý. Trong đó hết sức cân nhắc tính khả thi của các biện pháp. Ví dụ như đặt vấn đề kiểm tra năng lực tài chính của DN thì phải xem tính khả thi của việc kiểm tra này như thế nào?” – ông Hiếu lưu ý.
Theo ông Hiếu, càng đặt rào cản thì sẽ giảm năng lực cạnh tranh, mất đi các nhà đầu tư tốt nên phải cân bằng tất cả mọi việc.
Một vấn đề cần lưu tâm là trước khi bổ sung các quy định thì phải rà soát quy định hiện hành để tránh chồng chéo các chế tài.
“Ngoài ra, chúng ta cần xem có cơ chế nào khác ngoài cơ chế đấu giá không, ví dụ như cơ chế đấu thầu. Hành vi thứ cấp rất quan trọng sau đấu giá như quản lý dòng tiền, thông tin minh bạch… Đồng thời phải có cơ chế chính sách thuế hợp lý” – ông Hiếu nói.
Đấu giá đất phải có kế hoạch tầm nhìn dài hạn
Kết luận chương trình hội thảo, TS Hoàng Công Gia Khánh, Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế – Luật, chia sẻ: “Hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp rất sâu và có tính thực tiễn cao.
Có ba điểm quan trọng được thống nhất cao là tái khẳng định đấu giá QSDĐ là chủ trương đúng đắn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ổn định thị trường BĐS, phát triển kinh tế.
Thứ hai, đấu giá liên quan đến nhiều luật khác nhau như Luật đầu tư, đất đai, luật quản lý tài sản công. Các ý kiến đã làm rõ hệ thống quy định pháp luật là đầy đủ, cụ thể nhưng vẫn có một vài điểm mờ, chồng chéo giữa các luật, có các cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, chưa có sự thống nhất. Điều kiện chưa đầy đủ nhất quán về năng lực của bên tham gia, sau đấu giá…
Có hai luồng quan điểm trong các ý kiến đóng góp tại hội thảo là hết sức cân nhắc việc nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động tổ chức đấu giá QSDĐ. Quy định cần chặt chẽ hơn, tránh tình trạng bỏ cọc nhưng cũng không gây ra tâm lý hoang mang, e ngại cho nhà đầu tư.”
Theo ông Khánh, cần xác định đấu giá QSDĐ không chỉ tăng thu ngân sách mà mục tiêu phải là phát triển kinh tế, xã hội. Đảm bảo nguyên tắc đấu giá theo cơ chế thị trường. Quy định cần chặt chẽ nhưng phải thu hút nhiều người tham gia đấu giá. Đồng thời, người rúng đấu giá phải thực thi nghĩa vụ của mình, và chế tài xử lý nghiêm khi xảy ra vi phạm.
Có nhiều ý kiến đề xuất quy định riêng cho đấu giá BĐS và QSDĐ vì đây là lĩnh vực có những tính chất đặc thù riêng. Các đại biểu hội thảo cũng góp ý cần đồng bộ chính sách để thị trường BĐS phát triển minh bạch, hoàn thiện chính sách sử dụng đất.
Ngoài ra, các ý kiến kiến nghị bổ sung quy định về thuế tài sản, tạo nhiều kênh đầu tư an toàn cho nhà đầu tư.
Ông Khánh cho rằng đấu giá đất phải có kế hoạch tầm nhìn dài hạn, nếu không trong tương lai sẽ cạn kiệt quỹ đất.
Nhóm tài sản đấu giá cần chia làm 3 nhóm. Nhóm 1 là tài sản đấu giá tạo nguồn lực cho địa phương. Nhóm 2 là tài sản tạo nguồn thu ổn định dài hạn cho ngân sách (ví dụ sẽ thanh toán từng năm kéo dài chứ không thanh toán ngay sau khi trúng đấu giá). Nhóm 3 là tài sản phải giữ lại trong hàng chục năm nữa để nhà nước đầu tư, phải tính toán về lợi ích giá trị gia tăng khi giữ lại đầu tư.
Cùng với đó, Nhà nước phải phát triển hạ tầng không chỉ về giao thông mà cả hạ tầng về công nghệ, chuyển đổi số…
“Ban tổ chức sẽ tổng hợp ý kiến đóng góp của các cơ quan quản lý, hiệp hội, DN, các chuyên gia… về đấu giá QSDĐ. Báo cáo tổng hợp các ý kiến sẽ được gửi đến cơ quan Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành tham khảo, xem xét khi sửa đổi bổ sung các luật liên quan đến vấn đề đấu giá QSDĐ”- ông Khánh nói và gửi lời cảm ơn chân thành đến các đại biểu đã tham dự hội thảo.

Thành tựu:
Hiện nay bà vừa giữ các vị trí điều hành doanh nghiệp và là Phó Viện trưởng phụ trách Tư vấn xúc tiến đầu tư và phát triển dự án tại Viện Kinh tế Xanh. Kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp và hiểu biết sâu sắc về xu hướng đầu tư bền vững là nền tảng giúp bà dẫn dắt Viện Kinh tế Xanh tư vấn hiệu quả các dự án kinh tế xanh phù hợp tiềm năng địa phương và xu thế toàn cầu.

Sơ lược:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền là một lãnh đạo giàu kinh nghiệm với nền tảng vững chắc về quản lý, hoạch định chiến lược và triển khai dự án phát triển xã hội. Từ tổ chức Đoàn thanh niên, doanh nghiệp tư nhân, đến viện nghiên cứu, bà luôn thể hiện năng lực tổ chức, kết nối và tạo ra giá trị thiết thực cho cộng đồng. Trong vai trò Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Xanh, bà Hiền là nhân tố quan trọng trong việc cụ thể hóa các mục tiêu phát triển bền vững của Viện và đóng góp vào quá trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam.
Thành tựu:
– Điều phối thành công trên 12 dự án cấp viện và cộng đồng trong 3 năm (2021–2024), góp phần mở rộng phạm vi hoạt động của Viện tại 6 tỉnh, thành phố lớn.
– Đề xuất và triển khai chiến lược truyền thông “Kinh tế xanh – sống xanh – phát triển bền vững”, thu hút hàng ngàn lượt tiếp cận mỗi tháng qua hệ sinh thái truyền thông số của Viện.
– Thúc đẩy kết nối với hơn 20 tổ chức đối tác trong và ngoài nước trong lĩnh vực đào tạo, đầu tư xã hội và đổi mới sáng tạo xanh.
– Là nhân sự chủ lực xây dựng khung đào tạo công dân xanh của Viện, hướng tới phổ cập hóa nhận thức và hành động về phát triển bền vững tại cộng đồng cơ sở.



Thành tựu:
– Tác giả của rất nhiều bài báo khoa học được đăng trên tạp chí hội nghị trong nước và quốc tế, ông là Nguyên Phó Hiệu trưởng Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.
– Người tiên phong đưa các đề tài nghiên cứu ứng dụng trong thực tế. Ứng dụng của đề tài: “Nghiên cứu phục tráng và bảo tồn giống lúa bản địa có năng suất, chất lượng gạo ngon” của Ông cùng cộng sự không chỉ góp phần nâng cao đời sống cho nông dân nhiều khu vực ở các tỉnh Hòa Bình, Lào Cai mà còn mở ra một hướng sản xuất lúa đặc sản cho khu vực phía bắc Việt Nam.
– Phối hợp với cán bộ kỹ thuật địa phương hướng dẫn đồng bào dân tộc Dao ở Sa Pa (Lào Cai) bảo vệ và phát triển các loại cây thuốc tắm phục vụ khách du lịch, nâng cao thu nhập và bảo vệ các nguồn gen quý hiếm của địa phương.
Sơ lược:
Là Tiến sĩ chuyên ngành sinh học phân tử, sinh hóa dược; chuyên gia tư vấn cho các tổ chức trong và ngoài nước về lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ, chế biến thực phẩm, xử lý môi trường bằng công nghệ sinh học.
Thành tựu:
– Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao, Đại học Công nghiệp Hà Nội và Nguyên Phó Viện trưởng Viện khoa học và Giáo dục Đông Nam Á.
– Chủ trì và tham gia thực hiện các đề tài thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học, bảo quản và chế biến thực phẩm cấp quốc gia, cấp bộ và cấp tỉnh.
– Tư vấn viên xây dựng các quy trình thực hành nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế.
Sơ lược:
Ông là một chuyên gia kinh tế – tài chính quốc tế, dày dạn kinh nghiệm với sự nghiệp trải dài từ kinh tế công đến kinh tế tư nhân và học thuật.
Thành tựu:
– Ở khu vực kinh tế công, Ông đã từng đảm nhận vị trí cố vấn cấp cao cho các sĩ quan và giám đốc điều hành cấp cao của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong các lĩnh vực hải chiến, hậu cần và mô hình công nghệ thông tin.
– Trong khu vực tư nhân, Ông giữ vai trò điều hành ở nhiều công ty hàng đầu như Schlumberger, BMC Software,…
– Ông cũng từng là giảng viên kỹ thuật tại Đại học Lamar và tiến hành nghiên cứu cho NASA về robot, vật liệu tổng hợp, cơ học tính toán và trí tuệ nhân tạo.
Sơ lược:
Ông có 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế, cố vấn cho nhiều khách hàng tại khắp nơi trên thế giới.
Thành tựu:
– Ông Robert Marshall tham gia vào B+H từ năm 2011 với vai trò Giám đốc toàn cầu của các dự án thiết kế đô thị và cảnh quan.
– Từng phụ trách phát triển các dự án quy hoạch tổng thể cho những thành phố mới tại khu vực Trung Đông và Ấn Độ, xây dựng các dự án lớn của tư nhân tại vùng Vịnh Ba Tư và Nam Phi, tái xây dựng lại các dự án tại Châu Á, Châu Âu và Trung Đông, đồng thời các quy hoạch tổng thể cho khuôn viên, cảnh quan công cộng tại Mỹ và Canada.
Sơ lược:
Là một chuyên gia đa ngành từ phát triển chính sách, xây dựng chiến lược quản lý đất đai theo luật định, quản lý di sản và quản lý môi trường. Ông có hơn 30 năm làm việc tại Melbourne, Úc; có kinh nghiệm trong việc đưa ra các kế hoạch mang tính chiến lược về phát triển hạ tầng, quy hoạch đô thị, các dự án phát triển cấu trúc đất đai, đồng thời đảm nhận vai trò kết nối giữa các bên liên quan và các chuyên gia độc lập. Thông qua những nghiên cứu, thực địa, phân tích kế hoạch, ông làm việc trực tiếp với cộng đồng để hiện thực hóa các dự án vào cuộc sống.
Thành tựu:
– Từng hướng dẫn, làm cố vấn cho các nhà hoạch định trẻ và hỗ trợ hoàn thành dự án cho đến khi có kết quả.
– Tham gia nhiều dự án cùng một lúc như cố vấn chiến lược cho các nhà phát triển, cộng đồng, chính phủ, chính quyền địa phương.
– Có nhiều kinh nghiệm trong việc diễn giải và áp dụng các chính sách, luật pháp và hoạch định chiến lược vào thực tiễn.
Sơ lược:
Với gần 20 năm kinh nghiệm về thiết kế, Barry từng tham gia vào việc thiết kế những dự án tại khắp nơi trên thế giới nhờ vào sự hiểu biết đa dạng về mô hình và quy mô.
Thành tựu:
– Có kinh nghiệm thiết kế trong nhiều lĩnh vực từ khách sạn, khu dân cư, tòa nhà thương mại, khu phức hợp, giải trí tại nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Trung Đông, Canada, Ấn Độ, Châu Âu và Châu Phi.
– Giám đốc thiết kế khu vực Châu Á cho nhiều dự án quy hoạch tổng thể và cảnh quan, Barry chuyên tập trung vào các giải pháp vật liệu có sức chịu bền tốt và thân thiện với môi trường; đồng thời lấy sự khác biệt, tính địa phương làm nền tảng gốc cho mỗi dự án.
Sơ lược:
Là một kiến trúc sư có hơn 30 năm kinh nghiệm, chủ trì rất nhiều công ty như New City Architects, Trường An Architects.
Thành tựu:
– Chủ trì/tham gia thiết kế/cố vấn thiết kế cho rất nhiều công trình lớn như Quy hoạch chi tiết dự án Saigon Pearl (TP.HCM); Công trình phức hợp thương mại – căn hộ cao tầng Thảo Điền Pearl (TP.HCM); Trường liên cấp Wellspring School (Hà Nội); Công trình phức hợp thương mại – văn phòng – căn hộ khách sạn cao tầng Mỹ Đình Pearl (Hà Nội); Trung tâm hành chính Quận 9 (nay là TP.Thủ Đức, TPHCM); Trụ sở Tỉnh ủy Phú Yên; Trường Đại học Kiến trúc TP HCM (UAH cơ sở Thủ Đức, TPHCM).
– Tiến sĩ giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM và đảm nhiệm vị trí Trưởng khoa Kiến trúc.
– Đảm nhận rất nhiều vai trò như: Nghiên cứu, lập nhiệm vụ thiết kế; Lập thiết kế tổng mặt bằng; Lập phương án thiết kế ý tưởng kiến trúc; Lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế; Định hướng, góp ý phương án thiết kế.
Sơ lược:
Là Kiến trúc sư quy hoạch hàng đầu thế giới, các công trình quy hoạch của Ông đều tập trung vào tính thực tiễn với cách tiếp cận liên ngành, tạo ra các công trình mang tính khả thi cao và bền vững. Hiện nay, bên cạnh việc trực tiếp quy hoạch dự án, ông tập trung vào việc tập hợp, chỉ đạo các kiến trúc sư và chuyên gia tài năng, truyền cảm hứng và tư tưởng mới vào các công trình quy hoạch và kiến trúc trên khắp thế giới.
Thành tựu:
Tại Việt Nam:
– Kiến trúc sư trưởng của các công trình quy hoạch tầm cỡ như Tái thiết Đô thị Quận 1, TPHCM; quy hoạch tổng thể quận 2 (nay thuộc TP.Thủ Đức, TPHCM); Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7, TPHCM; Quy hoạch Khu đô thị mới Hà Nội; quy hoạch tổng thể Casino Đà Nẵng.
– Đã là Chủ nhiệm đề án hoặc giữ các vị trí quan trọng nhất trong gần 100 dự án quy hoạch và thiết kế đô thị trên khắp thế giới, trong tất cả các lĩnh vực từ khu đô thị, khu phức hợp, khu dân cư, du lịch nghỉ dưỡng, cảng biển, giao thông, công trình văn hóa – di sản, công trình giáo dục, quy hoạch cảnh quan,…
Sơ lược:
Là Tiến sĩ tại Viện Khoa học Kỹ thuật Hague (Hà Lan), chuyên gia hàng đầu Việt Nam về kinh tế nông nghiệp và kinh tế phát triển, có gần 20 năm kinh nghiệm làm việc trong các viện nghiên cứu chính sách, đặc biệt là chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn; tham gia thực hiện và chủ trì 38 dự án liên quan đến chính sách phát triển nông thôn, chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, quản lý và sử dụng đất đai, hệ sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, phát triển thị trường nông sản, xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp,…
Thành tựu:
– Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
– Tác giả và đồng tác giả của nhiều bài báo, công trình khoa học đăng trên nhiều báo trong nước và quốc tế như “Báo cáo Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”; “Báo cáo phát triển Việt Nam 2016: Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào”…
Sơ lược:
Là Tiến sĩ Kinh tế học, là một chuyên gia kinh tế cao cấp với hơn 30 năm kinh nghiệm làm việc trong các dự án ODA và dự án phát triển; có kiến thức sâu rộng về luật pháp, chính sách, thể chế liên quan đến ODA, phát triển cộng đồng và đầu tư tại Việt Nam và có nhiều kinh nghiệm chủ trì nhiều nhóm soạn thảo sách, sổ tay hướng dẫn về quản lý dự án và tiến hành nhiều khóa đào tạo về quản lý dự án ODA.
Thành tựu:
– Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Đào tạo quản lý (VIM), đồng thời là Tổng Giám đốc Công ty TNHH Nghiên cứu và Tư vấn Chuyển giao Công nghệ và đầu tư CONCETTI.
– Từng giữ vị trí Trưởng ban Nghiên cứu khoa học, Ủy ban Khoa học Nhà nước.
– Cố vấn cấp cao và trưởng nhóm cố vấn cho hàng trăm dự án nghiên cứu, khảo sát lớn được tài trợ bởi Chính phủ và các tổ chức quốc tế hàng đầu như World Bank, ADB, UNDP, JICA, JBIC, DFID, VNCI,…
Sơ lược:
Là Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, trường Đại học Western Pacific, bằng Cử nhân kinh tế, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam. Bà có nhiều bài giảng về các vấn đề đầu tư và thuế Việt Nam ở trong và ngoài nước; tham gia nhiều nhóm làm việc để hỗ trợ việc trao đổi giữa các bên quản lý luật và các nhà làm luật nhằm cải thiện hệ thống thuế và môi trường tài chính của Việt Nam; điều hành nhiều dự án hỗ trợ khách hàng rà soát tài khoản thuế, hỗ trợ khách hàng trong suốt quá trình thanh kiểm tra thuế của cơ quan thuế và hải quan, và trong các vấn đề liên quan tới chính sách và đối thoại thuế và hải quan.
Thành tựu:
– Tổng Giám đốc Công ty Tư Vấn EY Việt Nam.
– Phó Chủ tịch CLB Giám đốc Tài chính Việt Nam (CFO).
– Hội viên Hiệp hội Kế toán Công chứng Úc; Trưởng nhóm Công tác Thuế và Hải Quan – Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF).
– Chuyên gia trong việc tư vấn soát xét đầu tư và thuế quốc tế trong lĩnh vực tối ưu hóa thuế hay chuyển giá.
Sơ lược:
Là kỹ sư máy, cử nhân kinh tế ngoại thương, chuyên gia về năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường, có hơn 25 năm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu; hơn 15 năm trong lĩnh vực năng lượng mặt trời.
Thành tựu:
Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Phát triển hạ tầng Lê Bảo Minh.
Phó Chủ tịch “Ban Năng lượng Sạch và Tiết kiệm Năng lượng” của Diễn đàn Kinh tế tư nhân.

Sơ lược:
Là Tiến sĩ Sinh học tại được cấp phép bởi Viện Nông nghiệp Pháp, chuyên gia hàng đầu Việt Nam về giống cây trồng và nông nghiệp công nghệ cao.
Thành tựu:
Năm 1997, sáng lập ra thương hiệu rau sạch, rau an toàn cao cấp Golden Garden – nhà cung cấp rau củ quả cho hàng loạt nhà hàng, khách sạn chuẩn 5 sao tại Hà Nội và TPHCM (là thương hiệu hiếm hoi thời bấy giờ nhận được công nhận của EurepGAP (hiện được gọi là Globalgap) về chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt chuẩn để gia nhập thị trường châu Âu).
Sáng lập nên thương hiệu Organik Dalat – thương hiệu rau củ quả hữu cơ hàng đầu Việt Nam và xuất khẩu nhiều đơn hàng giá trị ra các thị trường quốc tế với doanh thu lên đến hàng chục triệu USD.
Sơ lược:
Chuyên gia uy tín trong lĩnh vực phát triển cộng đồng và phát triển bền vững, tham gia nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Có hơn 20 năm kinh nghiệm triển khai các chương trình phát triển cộng đồng, làm việc với các tổ chức trong nước và quốc tế như Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, các Sở, Ban, Ngành Trung ương và Địa phương, Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế Giới, CARE, CCFD, Chính phủ Úc,…
Thành tựu:
– Hiện là Đồng Chủ tịch của Nhóm đối tác công tư ngành rau củ quả của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, cố vấn về kết nối nguồn lực phát triển bền vững cho các địa phương;
– Nhà sáng lập Viện Kinh tế Nông nghiệp hữu cơ.
– Cố vấn chiến lược các tổ chức phi lợi nhuận như Quỹ Khởi nghiệp xanh Việt Nam, Quỹ vì trẻ em khuyết tật Việt Nam…
– Nhà sáng lập và điều hành “Chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao ngành rau củ quả định hướng thị trường trên nền tảng logistics”.
Sơ lược:
Là Thạc sĩ chuyên ngành Quốc tế học, hiện là nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công. Bà đã có thâm niên 20 năm trong lĩnh vực phát triển cộng đồng bền vững; kết nối các nguồn lực trong nước và quốc tế nhằm xây dựng, phát triển và vận hành các nền tảng phát triển bền vững, các mô hình kinh tế xanh để thúc đẩy bảo vệ sự sống và an sinh xã hội. Bà đã nhiều lần được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an Việt Nam cùng các tổ chức phi chính phủ quốc tế tặng Bằng Khen, Giấy khen, Kỷ niệm chương vì những đóng góp tích cực cho sự phát triển an sinh xã hội tại Việt Nam.
Thành tựu:
Thành viên sáng lập và Giám đốc Cổng thông tin Điện tử Nhân đạo Quốc gia 1400 – dự án được nhận Giải thưởng Sáng kiến Gây quỹ Khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Hiệp Hội Quốc tế Chữ Thập Đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ.
Chủ tịch Hội đồng Quản lý Quỹ Vì Trẻ Em Khuyết Tật Việt Nam.
Sơ lược:
Là Chuyên gia có hơn 25 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực: hoạt động M&A ngân hàng thương mại và quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; hoạt động kinh doanh và quản trị ngân hàng thương mại; quản trị rủi ro ngân hàng. Khởi đầu bằng công tác quản lý nhà nước tại ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ông đã trải qua các vị trí như Chuyên viên quản lý Ngoại hối; Chuyên viên tổng hợp; Thanh tra giám sát.
Thành tựu:
2001 – 2010, gia nhập Eximbank Việt Nam và đảm nhiệm các vị trí từ trợ lý tổng giám đốc, trưởng phòng kinh doanh ngoại tệ cho đến Giám đốc chi nhánh.
2010 – 2012, Phó Tổng Giám Đốc khu vực phía Nam của Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu.
2012 – Hiện nay, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học và công nghệ ngân hàng, giảng viên Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
Sơ lược:
Là tiến sĩ kinh tế, có hơn 30 năm kinh nghiệm công tác và giữ trọng trách tại các cơ quan nhà nước cấp trung ương như Bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.
Thành tựu:
Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương; Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương.
Bí thư Đảng ủy Ban Kinh tế Trung ương; Chủ tịch Hội đồng thành viên Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam.
Năm 2015, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.
Năm 2010, ông được trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.